70 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời

Thế Chiến Thứ Hai, khiến cho 80 triệu người chết, là biến cố gây thiệt hại về sinh mạng lớn nhất trong lịch sử loài người, không kể đến tổn thất khổng lồ về vật chất, đã là lời cảnh báo, đánh thức lương tâm nhân loại, và nói riêng là các cường quốc nguyên tử thời bấy giờ về nguy cơ của một cuộc thế chiến kế tiếp trong tương lai có thể làm nổ tung cả trái đất, tận thế của loài người.

Vì thế, vào năm 1944, ngay trước khi chiến tranh chấm dứt, các cường quốc lúc bấy giờ thuộc phe Đồng Minh là Mỹ, Anh và Nga đã dự kiến xây dựng một nền hoà bình lâu dài cho toàn nhân loại; từ đó nẩy sinh ý định thành lập một cơ cấu quốc tế với vai trò duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.

Trong mục tiêu đó, tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đời vào ngày 26/6/1945 tại New York, Hoa Kỳ và trụ sở được đặt tại đó cho tới ngày hôm nay.

Song song với việc thành lập một tổ chức, là Liên Hiệp Quốc, ý thức về sự tôn trọng “quyền làm người, hay nhân quyền, của mỗi cá nhân” được cho là yếu tố căn bản và cần thiết phải phát triển để xây dựng một nền hoà bình lâu dài cho toàn thế giới. Nhu cầu cần có một tuyên ngôn về quyền làm người đã đưa đến sự ra đời của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vào ngày 10/12/1948 tại Paris, Pháp Quốc.

Cốt lõi của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Trong tiến trình soạn thảo kéo dài 4 năm trời, ban soạn thảo Tuyên Ngôn gồm 50 luật gia hàng đầu thế giới đã quy định là Tuyên Ngôn phải đạt được những mục tiêu căn bản sau:

– Tuyên Ngôn phải mang tính phổ quát, có giá trị cho tất cả mọi cá nhân trên toàn thế giới chứ không riêng cho một quốc gia hay dân tộc nào.

– Các quyền con người được nêu lên trong Tuyên Ngôn là những quyền tối thiểu mà mọi người phải có để xứng đáng là một con người.

– Đây là những quyền bẩm sinh, đã sinh ra làm kiếp người đương nhiên phải có các quyền này.

– Mọi chính quyền tự nhận là dân chủ có nghĩa vụ thực thi các quyền này.

Ban soạn thảo Tuyên Ngôn đã ứng dụng 2 câu châm ngôn của Đông và Tây là “Điều gì mình không muốn thì đừng làm với người khác” và “Đừng làm cho người khác điều mà mình không muốn người khác làm cho mình” trong việc soạn thảo ra các điều lệ của Tuyên Ngôn.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc họp tại Palais de Chaillot, Paris, Pháp Quốc, thông qua vào nửa đêm 10 Tháng 12, 1948 với 40 quốc gia bỏ phiếu thuận, 8 quốc gia hiện diện nhưng không bỏ phiếu, và 2 quốc vắng mặt không bỏ phiếu.

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền gồm 30 Điều, nêu lên 30 quyền căn bản tối thiểu của con người. Năm nhân quyền căn bản nhất được nêu lên trong TNQTNQ là:

– Quyền được bình đẳng,

– Quyền không bị kỳ thị,

– Quyền được sống, được tự do, được an toàn cá nhân,

– Quyền không bị làm nô lệ,

– Quyền không bị tra tấn hay bị hạ nhục.

Những đóng góp của Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho nhân loại trong 70 năm qua

Cho tới ngày hôm nay, năm 2018, Liên Hiệp Quốc được 73 tuổi và có 193 quốc gia thành viên; Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được 70 tuổi, đã được dịch ra hơn 375 thứ tiếng và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, và trừ ra một số quốc gia theo chính thể độc tài, được thế giới coi là khuôn mẫu nhân quyền để toàn nhân loại hướng tới.

Được sinh ra từ sự thức tỉnh của nhân loại qua thảm họa chiến tranh nên hẳn nhiên mục tiêu chính yếu nhất của Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là ngăn chặn để chiến tranh không xảy ra nữa và kế đến là cải thiện tình trạng nhân quyền trên toàn thế giới.

Hai cuộc chiến khốc liệt nhất, mang đến nhiều tổn hại sinh mạng và tài sản cho nhân loại là Thế Chiến Thứ Nhất và Thế Chiến Thứ Hai chỉ cách nhau có 21 năm. Kể từ khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt vào năm 1945, đến nay đã được 73 năm, tuy đã có một số cuộc chiến lẻ tẻ tại một vài nơi và một số nguy cơ được đánh giá là có thể đã gây ra Thế Chiến Thứ Ba, nhưng cuối cùng thế chiến đã không xảy ra. Phải chăng đó là nhờ sự hiện hữu của Liên Hiệp Quốc với những nỗ lực liên lạc, móc nối, dàn xếp, thương lượng liên tục và triền miên để thế chiến không xảy ra mặc dù nhiều khi rất căng thẳng. Có lẽ đây là điều mà khó ai có thể phủ nhận bất chấp một số lập luận bi quan cho rằng Liên Hiệp Quốc chỉ là một tổ chức bù nhìn, không thực lực.

Về lãnh vực nhân quyền thì, hẳn nhiên là tại bất cứ quốc gia nào, kể cả những quốc gia tự do dân chủ nhất thế giới, nhân quyền vẫn luôn là đề tài được quan tâm cải thiện, và nổi trội nhất là tại những quốc gia cộng sản hay độc tài, sự vi phạm quyền con người vẫn tiếp tục ở mức độ trầm trọng.

Tuy nhiên, trong khung cảnh của một “thế giới phẳng”, hay “làng thế giới”, khi các quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau hơn, khi sự tiếp xúc giữa các cá nhân trở nên dễ dàng và chặt chẽ hơn trước, thông tin, sự hiểu biết về quyền con người được phổ biến và ý thức rộng rãi hơn trước đã giúp rất nhiều cho nỗ lực ngăn chận những vi phạm nhân quyền tại khắp mọi nơi. Tình trạng kinh tế và chính trị của mọi quốc gia móc nối chặt chẽ với nhau, đã không còn tình trạng “đóng cửa biên giới” và mặc kệ thế giới bên ngoài, ngay cả những quốc gia coi thường tự do dân chủ và đàn áp người dân tàn bạo nhất cũng không còn có thể coi thường áp lực của thế giới mà điển hình là qua cơ cấu của Liên Hiệp Quốc.

Như vậy, có thể kết luận mà không sợ sai lầm là tổ chức Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, từ khi được sản sinh ra đã đóng góp rất lớn vào 2 mục tiêu là tránh chiến tranh và cải thiện nhân quyền trên toàn thế giới.

 

Malaysia: Giàu có nhưng chưa văn minh

Dù có động thái điều tra vụ việc CĐV Việt Nam không được vào sân tối 11/12, Hiệp hội bóng đá Malaysia (FAM) vẫn đa’ng bị lên a’n.

Bị an ninh Malaysia ngăn cản, CĐV trèo rào vào xem chung kê’t AFF Cup Hàng trăm cổ động viên Việt Nam bị lực lượng an ninh Malaysia làm khó, không cho vào trong sân xem trận chung kê’t lượt đi AFF Cup dù trên kha’n đài vẫn còn nhiều ghế trống.

Nhiều CĐV Việt Nam vẫn chưa hết bức xúc sau khi không được thưởng thức trận chung kê’t lượt đi giữa Malaysia và tuyển Việt Nam trên sân Bukit Jalil một cách trọn vẹn. Nhiều người có vé nhưng không được vào sân.

Làn sóng phản đối trên m.ạ.n.g xã hội được báo chí hai nước phản a’nh khiến FAM phải vào cuộc. Tổng thư ký FAM, ông Stuart Ramalingam pha’t biểu: “Hiệp hội bóng đá Malaysia sẽ phối hợp với cảnh sa’t điều tra việc để quá đông kha’n giả vào sân một cách bất thường”.

CĐV Việt Nam khổ sở xem trận đấu qua hàng rào dù có vé vào sân. Ảnh: Duy Hiếu.

Lời hứa không để xảy ra tình trạng tương tự trong các trận đấu tiếp theo của FAM có vẻ không nhận được sự thông cảm. Bởi số đông kha’n giả Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi và không thoải mái khi vượt bao nhiêu khó khăn để có tấm vé vào sân Bukit Jalil tối 11/12 vừa qua.

Phó tổng giám đốc một tập đoàn công nghệ lớn, ông Đỗ Cao Bảo viết trên trang cá nhân: “Tôi phải nhịn đi vệ sinh 6 tiếng đồng hồ”. Từng đi nhiều nước xem bóng đá, nhưng ông Bảo chưa gặp trường hợp nào như vậy. Bảo vệ sân đã khóa cửa khu vực kha’n đài, không cho ai ra vào vì ngoài cổng còn nhiều người muốn vào sân.

Ông Bảo còn may hơn rất hàng trăm CĐV Việt Nam khác. Cầm vé trên tay, nhưng họ đã không được vào vì sân đã hết chỗ. Chưa hiểu vì sao và bằng cách nào, những CĐV chủ nhà vẫn vào được khu vực của đội khách và chiếm luôn chỗ ngồi. Câu trả lời có lẽ phải chờ ban tổ chức chủ nhà giải đáp.

Thông điệp “Malaysia nợ CĐV Việt Nam một lời xin lỗi” được truyền tải. Cây bút Abel Willing của Goal có mặt ở Bukit Jalil nói với Zing: “FAM xứng đa’ng bị lên a’n vì để xảy ra sự việc như vậy với CĐV Việt Nam”.

Hiện người hâm mộ Malaysia lên kế hoạch đến Hà Nội để cổ vũ cho đội tuyển quốc gia của họ. Cũng như trận đấu ở vòng bảng, sẽ có khoảng 3.000 được dành cho CĐV đội khách tại Mỹ Đình.

Hy vọng kịch bản diễn ra ở Bukit Jalil sẽ không xảy ra với CĐV Malaysia. Trong trận chung kê’t lượt đi, thầy trò ông Park Hang-seo đã bị cầm hòa sau hai lần liên tiếp ghi bàn vào lưới chủ nhà nhờ công của Huy Hùng và Đức Huy.

Trưa 13/12, tuyển Malaysia sẽ đến Hà Nội để chuẩn bị thi đấu trận lượt về chung kê’t AFF Cup 2018. Tối 12/12, tuyển Việt Nam có mặt tại Nội Bài và trở về khách sạn La Thanh nghỉ ngơi.

Malaysia giàu có gấp 4 lần Việt Nam. Thông thường giàu có thường đi đôi với văn minh, thế nhưng qua trận chung kê’t AFF ở sân Bukit Jalil, tôi mới nhận thấy Malaysia có nhiều điểm còn thua Việt Nam m.ì.nh.

KHÁN GIẢ VIỆT NAM PHẢI NHỊN TÈ

Đi xem bóng đá nhiều, Việt Nam cũng có, nước ngoài cũng có, nhưng chưa bao giờ chúng tôi không có chỗ đi tè. Giờ giải lao giữa 2 hiệp, tôi mất đến 5 phút leo được đến sa’t cửa mới biết cửa sắt đã khoá, không ai được ra vào. Hoá ra sau khi trận đấu bă’t đ.ầ.u cửa sắt ra vào kha’n đài bị cảnh sa’t Malaysia khoá c.h.ặ.t, nội bất xuất ngoại bất nhập, mà nhà vệ sinh lại ở bên ngoài ca’nh sửa sắt. Thế là tôi buộc phải quay lại chỗ ngồi và nhịn tè 6 tiếng liền (1h di chuyển đến SVĐ, 3h trước trận đấu ngồi trong kha’n đài, 2h trong trận đấu).

Tôi không thể tưởng tượng cảnh đi xem bóng đá ở SVĐ mà kha’n giả lại không được đi nhà vệ sinh. Mà đấy lại là Malaysia, nước giàu có thứ 3 ĐNA.

VÉ BÓNG ĐÁ KHÔNG SỐ HÀNG, KHÔNG SỐ GHẾ

Đã quen với vé bóng đá ở sân Mỹ Đình có số cửa, số hàng, số ghế, tôi rất bất ngờ khi vé trận chung kê’t lượt đi trên sân Bukit Jalil hiện đại nhất ĐNA lại chỉ có mỗi số cửa, kha’n giả vào kha’n đài tự tìm chỗ nào trống thì ngồi. Chính vì vậy mà ban tổ chức không kiểm soa’t được số kha’n giả, dẫn đến rất nhiều kha’n giả vào sân không có ghế ngồi, đứng chật kín h.à.n.h lang lên xuống, dù tất cả đều có vé.

CÓ VÉ MÀ KHÔNG ĐƯỢC VÀO SÂN

Rất nhiều CĐV Việt Nam, mất tiền mua vé máy bay, vé xem trận chung kê’t, mất cả ngày trời bay đến Kuala Lumpur, di chuyển đến sân Bukit Jalil, đã qua cửa soa’t vé nhưng đến sa’t khu vực cửa vào kha’n đài thì cửa sắt đã đóng, dù giờ thi đấu chưa đến. Lý do đưa ra là số kha’n giả trên kha’n đài đã quá đông, kha’n đài đã quá tải, không an toàn cho CĐV.

Những CĐV này có vé, vé đúng cửa, nhưng không được vào, cảnh sa’t chỉ sang ban tổ chức, ban tổ chức chỉ sang cảnh sa’t, không ai chịu trách nhiệm cả. Ban tổ chức khuyên những CĐV này xem qua màn h.ì.n.h.

Mất hơn chục triệu tiền vé máy bay, tiền vé bóng đá, tiền ô tô, mất thời gia bay từ Việt Nam sang Kuala Lumpur chả nhẽ chỉ được xem qua màn h.ì.n.h, nhiều CĐV áo đỏ sao vàng đà.nh xem qua hàng rào sắt.

Hoá ra nguyên nhân là ban tổ chức phân phối cho Việt Nam 7.000 vé, nhưng lại chỉ bố trí cho ngồi ở 2 khu vực kha’n đài có sức chứa chưa đến 5.000 chỗ ngồi. Có lẽ đấy là nguyên nhân cửa sắt ra vào bị khoá, dẫn đến CĐV Việt Nam không được đi tè.

CỔ ĐỘNG VIÊN VIỆT NAM BỊ Đ.ÁN.H

.

Cá nhân tôi thì gặp rất nhiều CĐV Malaysia thân thiện, chào chúng tôi, giơ tay vẫy với nụ cười rất tươi, thế nhưng trong nhóm xe bus số 1 của tôi có anh nói chính anh nhìn thấy 2 CĐV Việt Nam đi lẻ theo dạng tự túc bị các CĐV Malaysia holigan đâ’m rách mắt.

VĨ THANH

Người Việt Nam chúng ta thường hay khen nước ngoài và tự chê Việt Nam m.ì.nh. Rất nhiều lần tôi nghe được CĐV Việt Nam chê VFF, chê BQL sân Mỹ Đình, chê đủ thứ từ việc tổ chức, đến công tác bảo vệ an ninh, thế nhưng ở sân Mỹ Đình ít nhất vé có số cửa, số hàng, số ghế và CĐV được ngồi đúng số ghế của m.ì.nh, bất cứ lúc nào muốn đi nhà vệ sinh đều đi được, có vé thì nhất định được vào. Đặc biệt là chưa bao giờ có CĐV nước ngoài nào bị đa’nh khi đi cổ vũ đội nhà ở Việt Nam.

Những CĐV Việt Nam có vé không được vào sân đã rất p.h.ẫ.n n.ộ và họ đã tuyên bố “Malaysia: các bạn nợ chúng tôi một lời xin lỗi”, bằng cả tiếng Việt và bằng tiếng Anh.

Xin lỗi các bạn Malaysia của tôi, tôi buộc phải viết những dòng chữ này, với tôi các bạn là những người bạn tốt, lịch sự và rất đa’ng yêu.

Đỗ Cao Bảo, Phó tổng giám đốc một tập đoàn FPT

 

VIỆT NAM TIẾP TỤC ĐẠT ĐƯỢC NHIỀU THÀNH TỰU VỀ NHÂN QUYỀN

“Việt Nam đã thực hiện xong 96,2% khuyến nghị về nhân quyền của Liên hiệp quốc và sẽ báo cáo tại kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát Toàn cầu chu kỳ 3 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc vào ngày 22/01/2019.”

Ông Đặng Hoàng Giang, Chánh văn phòng Bộ Ngoại Giao cho biết thông tin vừa nêu tại Hội thảo công bố Báo cáo quốc gia về nhân quyền UPR chu kỳ 3 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, được tổ chức vào ngày 3/12/2018 ở Hà Nội. Ông Giang còn cho biết thêm báo cáo này đã được được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 17/10/2018 và nộp lên Hội đồng Nhân quyền ngày 22/10/2018.

Chánh văn phòng Bộ Ngoại Giao nhấn mạnh Việt Nam đã thực hiện xong 175 khuyến nghị trong tổng số 182 khuyến nghị, chiếm 96,2% cao hơn tỉ lệ 78% của chu kỳ 1 năm 2009 và báo cáo UPR của Việt Nam chu kỳ 3 năm 2019 do 18 bộ, ngành và các tổ chức xã hội tham gia thực hiện trên tinh thần nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế cho biết Việt Nam thực hiện các khuyến nghị về nhân quyền của Liên hợp quốc qua việc sửa đổi 96 văn bản luật, pháp lệnh về quyền con người; như Hiến pháp 2013, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật dân Sự…

Bà Nga nhấn mạnh, Việt Nam thực hiện 100% khuyến nghị về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Việt Nam đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân  thông qua các quyền dân sự; Việt Nam có 857 cơ quan báo chí và 50 triệu người dùng Internet, chiếm 54% dân số…

Tại buổi Hội thảo, bà Caitlin Wiesen, Giám đốc Quốc gia UNDP tại Việt Nam đã chúc mừng Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ III, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của việc triển khai hiệu quả các khuyến nghị nhận được tại Phiên đối thoại tháng 1/2019 sắp tới, khẳng định UNDP sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam để triển khai những khuyến nghị này, qua đó góp phần bảo đảm và thúc đẩy ngày càng tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam.

Được biết, cơ chế UPR được ra đời từ năm 2008 và là một trong những thành công nổi bật của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc do được xây dựng trên nguyên tắc minh bạch, công bằng, không phân biệt quốc gia lớn, nhỏ. Với chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, Việt Nam đặc biệt coi trọng cơ chế UPR và luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nghĩa vụ và cam kết theo cơ chế UPR, trong đó có việc triển khai các khuyến nghị UPR đã chấp thuận.

Mặc dù trong thế giới đương đại còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề nhân quyền song những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong những năm vừa qua là bằng chứng không thể phủ nhận về nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm thực thi quyền con người./.

Đắc Chí

 

MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ BẨN THỈU CỦA MỘT SỐ LINH MỤC HÀ NỘI

Viện cớ đã sắp hết hạn luật định trả lời khiếu nại mà chưa nhận được công văn trả lời của UBND quận Hoàn Kiếm, chiều 03/12/2018, 17 Linh mục đại diện Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã kéo theo một đoàn chiên đến UBND quận Hoàn Kiếm để yêu cầu dừng việc thi công, giải quyết đơn khiếu nại và ngang ngược yêu sách lãnh đạo quận phải “tiếp dân”, dù trước đó các linh mục đã liên hẹ và biết hôm đó các lãnh đạo quận đang có lịch làm việc ở một chương trình khác.

Hành động kéo đông người đến trụ sở và gây áp lực kiểu này rõ ràng hành động “gây sức ép”, gây phức tạp tình hình an ninh trật tự tại trụ sở Nhà nước.

Chiều 7/12/2018, lãnh đạo Quận Hoàn Kiếm và các ban ngành liên quan đã mời đại diện Tòa Tổng Giám mục Hà Nội để “đối thoại” và giải đáp các thắc mắc.

Tại cuộc gặp, linh mục Gioan B. Lê Xuân Tuyến, chính xứ Hàng Bột đại diện Tòa Tổng Giám mục Hà Nội cho rằng khu đất 29 phố Nhà Chung là Trường Thánh Mẫu trước đây của Giáo hội. bị chính quyền đã tự ý lấy làm trường học “là hành vi xâm phạm trực tiếp đến quyền căn bản là quyền sở hữu của các cơ sở tôn giáo”; việc thi công trên đất tranh chấp là “cố tình phớt lờ những khiếu nại … thể hiện sự thiếu tôn trọng cũng như xâm phạm quyền tự do tôn giáo và quyền khiếu nại của công dân”; cho chính quyền chậm trả lời tố cáo “khẩn cấp” của Tòa Tổng giám mục (dù chưa hết 45 ngày theo luật định).

Có thể nói, bằng cách chất vấn như trên, một lần nữa cho thấy sự lật lọng, trở mặt và phớt lờ bằng chứng lịch sử của các linh mục thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội.

Quốc gia nào cũng vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo phải dựa trên các quy định của pháp luật, đó là:

(1) Nghị quyết của quốc hội số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 về nhà đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 01/7/1991. Theo đó, tại Điều 1, Điều 2 Nghị quyết số 23 quy định rõ: “Nhà nước không xem xét lại chủ trương chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01/7/1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN liên quan đến nhà đất; Nhà nước hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách cải tạo nhà, đất cho thuê; Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh; Quản lý nhà đất vắng chủ; Quản lý nhà đất trong từng thời điểm nhất định về nhà, đất của đoàn hội, tôn giáo; Quản lý nhà đất của những người di tản, chuyển vùng ra nước ngoài.”

(2) Luật đất đai năm 2013. Theo đó, khoản 5 Điều 26 quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Chiểu theo các quy định của pháp luật này, thì diện tích khu đất thuộc số nhà số 29, phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là thuộc sở hữu của Nhà nước.

Nhìn lại lịch sử, thửa đất tại số 29 và 31 phố Nhà Chung ban đầu thuộc sở hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thuộc ngôi chùa đẹp nhất Việt Nam là chùa Sùng Khánh, hay còn gọi là Sùng Khánh Báo Thiên Tự. Sau khi chiếm được Hà Nội, Thực dân Pháp “trả ơn” cho Thiên chúa bằng cách đạp phá ngôi chùa này và xây dựng lên khu Nhà Chung, trong đó có nhà thờ Hà Nội. Khi đó thửa đất được cấp bằng khoán điền thổ đứng tên chủ sở hữu là Hội truyền giáo ngoại quốc. Nhưng nó đã được phía nhà thờ bàn giao cho Nhà nước thống nhất quản lý vào năm 1961.

Vào ngày 24/1/1961, linh mục Nguyễn Tùng Cương là người quản lý toàn bộ khu Nhà Chung, đã có đơn xin được bàn giao 95 ngôi nhà, trong đó có ngôi nhà số 29 và số 31 phố Nhà Chung cho Nhà nước thống nhất quản lý và được Nhà nước chấp nhận. Ngay sau đó, UBND Khu Hoàn Kiếm (sau này là Quận Hoàn Kiếm) đã giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội quản lý để xây dựng thành trường học mang tên Trường Phổ thông cơ sở Trần Quốc Toản. Đến năm 2014 để thống nhất địa chỉ liên lạc của Trường, UBND TP đã quyết định hợp nhất 2 số nhà 29 và 31 là thành một số duy nhất là số 29 phố Nhà Chung.

Năm 2014, Trường Tiểu học Tràng An thuê lại số nhà số 29 phố Nhà Chung theo Quyết định cho thuê đất số 6241/QĐ- UBND, ngày 26/11/2014 của UBND TP.Hà Nội. Cho đến thời điểm đó, diện tích của khu đất thuộc số nhà 29 phố Nhà Chung vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Tháng 11/2015, do thiếu thốn về cơ sở vật chất và do các công trình của Trường đã xuống cấp trầm trọng, đe dọa tới sự an toàn của học sinh và các thầy cô giáo, dựa trên cơ sở đề xuất của nhà trường, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND TP. Hà Nội đã đồng ý với chủ trương cải tạo và xây dựng mới một số hạng mục, trong đó tập trung vào các lớp học. Và đến nay, việc cải tạo, xây dựng mới ở Trường Tiểu học Tràng An đã và đang được thi công đúng tiến độ.

Chính trong một lần đối thoại với chính quyền Hà Nội đòi đất 42 Nhà Chung, ông Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt thanh minh cho việc khăng khăng đòi lại quyền quản lý 42 Nhà Chung bằng việc dẫn chứng không bao giờ đòi lại đất do linh mục Cương bàn giao cho Hà Nội.

Tôi trích bài của RFA có tự đề: “Phát biểu của Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp với chính quyền TP Hà Nội“

“Bằng chứng đó là, như ông chủ tịch có nói đó, trong tờ kê khai của linh mục Nguyên Tùng Cương, lúc đó là quản lý tòa Tổng Giám Mục, có 95 cơ sở. Chúng tôi có đòi cơ sở nào đâu, vì những cơ sở đó thực sự dùng vào những lợi ích chung.

Xem link dưới của RFA:

https://www.rfa.org/…/distorted-quote-from-Hanoi-archbishop…?

Như vậy, kể từ 1961, khu đất thuộc số nhà 29 phố Nhà Chung là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước, chưa từng là cơ sở thờ tự của Tòa tổng giám mục Hà Nội. Vì thế việc kiến nghị của Tòa Tổng giám mục Hà Nội là không có cơ sở để giải quyết. Cũng vì vậy việc các cá nhân đang kêu gào trên mạng rằng, “chính quyền Hà Nội cướp đất của Giáo phận Hà Nội” là hành vi vu khống, xuyên tạc sự thật phục vụ cho các mục đích chính trị bẩn thỉu.

Thật tiếc, một hành động đúng luật, phục vụ cho mục đích giáo dục thế hệ trẻ, thể hiện tính nhân văn cao cả mà cũng bị Tòa Tổng giám mục Hà Nội rắp tâm phá hoại.

Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu tiên các linh mục thuộc giáo phận Hà Nội sử dụng chiêu bài “đòi đất” để gây bất ổn xã hội và chắc chắn nó không phải lần cuối cùng họ sử dụng thủ đoạn này.

Thực ra, các vị chủ chăn đều hiểu rõ việc kiện cáo, hay biểu tình, tuần hành… “không phải để lấy lại” mảnh đất mà họ đã bàn giao cho chính quyền quản lý, mà cái chính là phục vụ cho những mưu đồ chính trị bẩn thỉu.

Trong hình ảnh có thể có: 6 người, mọi người đang ngồi và trong nhà

ĐỘI CỜ ĐỎ VÀ SAO ĐỎ: TẠI SAO LẠI PHẢI SỢ?

Phong trào đòi xóa bỏ đội Cờ đỏ và Sao đỏ ở các trường phổ thông có vẻ đang dâng cao. Không cẩn thận mà nó đụng vào cái điểm gờ dân túy của lãnh đạo Bộ Dục thì có khi nó bị xóa bỏ không chừng!
Lạ cái là những kẻ cổ súy cho việc bỏ đội Cờ đỏ và Sao đỏ lại thường là những kẻ vẫn cổ súy cho cái gọi là xã hội dân chủ, dân sự, tự quản, cũng kiêm luôn là những kẻ luôn lên tiếng chê bai giáo dục VN là kém cỏi, không rèn được tính tự giác cho học sinh, đồng thời cũng luôn là những kẻ chê nguồn nhân lực của VN vô kỷ luật, không được như các nước Nhật, Trung, Hàn…
Dưng mà, không tiêu chuẩn kép không phải là các bạn đối kháng là điều gần như đã thành quy luật.
Ai cũng biết, đội cờ đỏ, sao đỏ là hình thức tự quản trong trường học. Nó giải quyết mấy vấn đề:
Thứ nhất là để đảm bảo trật tự, nền nếp theo nội quy trường học một cách hiệu quả nhất mà lại tốn ít nhân lực nhất.
Thứ hai là nó giáo dục học sinh tính tự giác, trách nhiệm, tinh thần kỷ luật và ý thức tôn trọng luật pháp sau này.
Những phẩm chất này công dân ở nước văn minh nào cũng phải có cả và đương nhiên để giáo dục nó thành một phẩm chất cho các nhi đồng thì cực kỳ gian nan.
Gian nan vì bản chất con người là vô kỷ luật, là lười nhác. Để giáo dục một nhi đồng lớn lên thành một công dân mẫu mực, có đạo đức, siêng năng lao động, tuân thủ luật pháp thì phải bằng nhiều cách: Dạy dỗ bằng lý lẽ, phạt bằng các hình phạt phù hợp, thưởng khi chấp hành tích cực các quy định, ban hành hệ thống pháp luật nghiêm khắc; người lớn phải làm gương, đội ngũ thực thi pháp luật phải hắc xì dầu. Đây cũng là cách mà Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore – những mô hình mà các bạn mồm vuông hay ca ngợi và lấy ra để dè bỉu VN – đã làm rất triệt để, đặc biệt là trong trường học.
Và một cách hiệu quả nhất chính là để bọn trẻ con tự nó đề ra kỷ luật và thực hành kỷ luật đó bằng cả 2 vai: người giám sát và người thực hiện – chính là mô hình đội Sao đỏ trong trường học. Khi đó, nó sẽ nhớ dai, nhớ lâu và may mắn sẽ rèn được tính kỷ luật và tự giác về sau này.

Và nó đương nhiên không phải khi nào cũng có thể thành công được. Bằng chứng là cho dù ở những nước văn minh nhất thì vẫn không thể xóa bỏ được cảnh sát và nhà tù.

Và đương nhiên không phải đội cờ đỏ, sao đỏ nào cũng chuẩn, đội viên nào cũng ngoan nhưng không phải vì một vài trường hợp cá biệt mà đòi bỏ đi một hình thức giáo dục hiệu quả với số đông còn lại.

Và đây là 1 cái link với những lý lẽ cực kỳ nực cười, kiểu như là họ không thích đội Sao đỏ là vì con họ bị mắc lỗi nên bị đội Sao đỏ ghi sổ, bị kỷ luật, xấu hổ, sợ; và vì một số đội viên Sao đỏ bị biến chất nhìn như “đại ca”, dọa nạt các học sinh khác… Úi dời, con họ mà ngoan thì sao bị đội Sao đỏ ghi sổ cơ chứ, hay họ cứ muốn con mình được tự do vô kỷ luật nhỉ?!
https://thanhnien.vn/…/ngai-doi-sao-do-trong-truong-hoc-872…
Và có cả bài viết của 1 ông nhà văn tên Vinh cũng được hàng nghìn lượt thích và mấy trăm lượt like dẻ bỉu đội Sao đỏ nữa cơ. Lý lẽ ông này đưa ra là đội Sao đỏ nó làm cho học sinh thành ngợm chứ không thành người, nó dạy thói mách lẻo và nhen nhóm cái ác.
Theo mấy cái lý lẽ này thì các quốc gia cũng nên bỏ luật pháp, cảnh sát và nhà tù vì những cơ chế này nó cấm công dân tự do vô kỷ luật và nó tạo ra lực lượng quyền lực chuyên ăn hiếp dân không lành là cảnh sát.
Và có lẽ nên để con người sống thời ăn lông ở lỗ tiền nguyên thủy thì phù hợp hơn.
Thế mà cũng đầy người cổ súy cho được thì quả là hài ra nước mắt!